Khi tưởng tượng lên ngôi: Xã hội bác ái, nghệ thuật bừng nở, con người khai mở chân trời mới

Trong buổi tọa đàm “Đêm ý tưởng” diễn ra vào ngày 25/1 vừa qua tại Hà Nội, các diễn giả đồng tình cho rằng trí tưởng tưởng có vai trò quan trọng, nếu nó được “lên ngôi”, sẽ là nền tảng để khi kết hợp với những yếu tố khác kiến tạo nên những điều tốt đẹp cho mỗi cá nhân, xã hội và nghệ thuật.

“Đêm ý tưởng” do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Laurent Fabius khai mạc lần đầu tiên vào năm 2015. Đây là dịp để các học giả, trí thức thảo luận về những vấn đề toàn cầu đang nổi lên.

Chương trình “Đêm ý tưởng” lần thứ hai diễn ra vào ngày 25/1/2018 tại 60 quốc gia trên cả 5 châu lục, cùng bàn về một chủ đề do Viện Pháp tại Paris lựa chọn: “Khi tưởng tượng lên ngôi: vị trí của hoạt động sáng tạo trong xã hội”.

Tại Hà Nội, dưới sự dẫn dắt của ông Étienne Rolland -Tham tán Hợp tác và Hoạt động Văn hóa Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, bốn diễn giả gồm Giáo sư Alain Patrick Olivier (bộ môn Triết học, Đại học Nantes), Giáo sư Arnaud Mecier (bộ môn Truyền thông Chính trị, Đại học Paris 2), tác giả, nhà hoạt động xã hội Đặng Hoàng Giang và nghệ sĩ thị giác Phạm Diệu Hương đã thảo luận trên nhiều khía cạnh về vai trò của tưởng tượng với hoạt động sáng tạo trong xã hội.

Tưởng tưởng đã lên ngôi tại Pháp từ 50 năm trước

Theo Giáo sư triết học Alain Patrick Olivier, không phải bây giờ người ta mới nhắc tới “tưởng tượng lên ngôi”. Cụm từ này là một biểu ngữ xuất hiện trên các đường phố Pháp từ những năm 1968, cách thời ta đang sống 50 năm. “Tưởng tượng lên ngôi” là kết quả quá trình phân tích triết học của những phong trào sinh viên trong xã hội thời ấy.

GS Alain kể câu chuyện tại Pháp, khi phong trào xã hội lên cao, có một sinh viên gặp một triết gia, và cậu được hỏi: “Phong trào thanh niên đang diễn ra hiện nay là gì, liệu các bạn có thể đưa ra chương trình hành động cụ thể cho chương tình không?”. Người sinh viên trả lời: “các phong trào ấy không phải để đưa ra chương trình hành động, mà nhằm vào việc sinh viên, giới trẻ có thể nói lên tiếng nói tự do”.

Triết gia đó tỏ vẻ hoài nghi câu trả lời, nhưng cũng bày tỏ lòng ngưỡng mộ với cậu sinh viên. Chàng sinh viên đó sau này trở thành một nhà triết học, còn triết gia đặt câu hỏi, chính là Jean Paul Sartre – triết gia hiện sinh, nhà văn, nhà hoạt động chính trị. Sartre đã bình luận câu trả lời của cậu sinh viên: “nếu các cậu đưa ra tiếng nói mà chưa có chương trình hành động, phải chăng trí tưởng tượng lên ngôi?”.

Tưởng tượng lên ngôi, theo Satre là trao cho giới trẻ một khả năng mới. Khi tưởng tượng lên ngôi, có một rủi ro là sẽ gây mất trật tự cho xã hội. Nhưng, xã hội cần tưởng tượng để tồn tại và phát triển. Tưởng tượng là quan trọng, nên cần phải cho nó quyền lực.

Bản thân trí tưởng tượng đã có quyền lực rồi. Trong mỗi giấc mơ, suy nghĩ, mong muốn đều có sự tưởng tượng. Sartre đưa vị trí đặc biệt cho tưởng tượng trong tư duy con người. Tưởng tượng không chỉ có trong triết học, kinh tế, mà phải cho tưởng tượng một ví trí đặc biệt trong mọi hoạt động thường ngày của mỗi cá nhân.

“Đưa lý thuyết tưởng tượng ra vào 50 năm trước là gây rắc rối cho xã hội, nên tưởng tượng bị cho rằng nó ảnh hưởng tới xã hội. Nhưng giờ đây, đưa tưởng tượng lên ngôi là điều cần thiết, đúng đắn” – GS Alain nhận định.

Khi tưởng tượng đi liền với thấu cảm, xã hội sẽ trở nên bác ái

Bằng hiểu biết của một nhà hoạt động xã hội, Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang đưa ra câu chuyện về trí tưởng tượng trong mối quan hệ với sự thấu cảm.

Ông kể, vào những năm 1968, trong khi tại Pháp, phong trào sinh viên chấn động nhằm phá bỏ những chật chội cũ, đưa ra giá trị mới lên cao; thì tại Việt Nam, chiến tranh nóng bỏng đang xảy ra. 5 năm sau, hiệp định Paris ký kết, cho 2 bên ngừng bắn súng.

Một nhà báo chiến trường là Chu Chí Thành ở trong chiến hào Quảng Trị đã ghi lại hình ảnh hai người lính ở hai chiến tuyến cùng ngồi lại uống trà, nói chuyện.

Trong khoảnh khắc, 2 người lính ở 2 chiến tuyến đã tiến lại gần nhau. Đó chính là sự “thấu cảm”. Hai người lính đã hình dung, tưởng tượng để nhìn vào thế giới người kia, sâu trong nội tâm người kia. Sự hình dung, trí tưởng tượng là khả năng cơ bản để chúng ta có thấu cảm.

Một triết gia từng nói thấu cảm là tái tạo trong tưởng tượng trải nghiệm của người khác, qua đó có thể hiểu, kết nối với họ. Nếu không có thấu cảm, mọi người trở nên lạnh lẽo, vô tình với nhau. Thấu cảm là nền tảng để lòng thương, trắc ẩn nảy nở.

Không ai muốn sống trong xã hội thiếu vắng sự thấu cảm. Cách đây không lâu, có một thanh niên sắp chết đuối ở Đà Nẵng, nhiều người đứng xem bảo tay này nghiện, cho chết đi cho rồi. Do thiếu thấu cảm nên người ta cho anh ta như một con vật, đẩy anh ta ra rìa cộng đồng. Đó là logic của chủ nghĩa toàn trị. Thiếu thấu cảm, việc dán nhãn người khác trở nên dễ dàng. Họ cho rằng con người chỉ có thể là xấu hoặc tốt, tay ấy là ngáo đá nghiện ma túy là xấu. Họ cho con người bất biến không thay đổi, cái xấu vĩnh viễn không thay đổi.

Sinh viên Pháp xuống đường biểu tình với mong muốn xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, bình đẳng, bác ái, tự do. Ở cực này, chúng ta có những tưởng tưởng mong muốn bình đẳng, bác ái; nhưng ở cực kia có những con người toàn trị, dựng nên những hình dung rõ ràng một thế giới cần phải có trật tự, bởi thế mới sinh ra những Hitler, Pol Pot. Đó là một tưởng tượng thiếu vắng sự thấu cảm, nên dẫn đến phi nhân hóa, tạo nên tội ác khủng khiếp.

Với TS Đặng Hoàng Giang, trí tưởng tưởng giúp con người thấu cảm, tránh được chủ nghĩa toàn trị, và góp phần làm nền tảng xây dựng tự do, bình đẳng, bác ái.

Tính hai mặt của trí tưởng tượng

Dưới góc độ một nghệ sĩ, một thạc sĩ tốt nghiệp chuyên ngành mỹ học, triết học nghệ thuật tại Paris, Phạm Diệu Hương đưa ra những nhìn nhận về vai trò của tưởng tượng đối với sáng tạo nghệ thuật.

Trước tiên, Diệu Hương khẳng định tưởng tượng có vai trò quan trọng trong mọi đời sống, nền văn hóa, đó là luồng chuyển động để thoát khỏi tự nhiên.

“Trí tưởng tưởng thường được xem như năng lực vượt trội trong nghệ sĩ khi họ phản ánh, sáng tạo lại xã hội. Đôi khi đây là những nhân tố mở lối cho những bước tiến vỹ đại của con người” – nghệ sĩ Phạm Diệu Hương nhận định.

Tuy nhiên, thạc sĩ nghệ thuật cũng cho rằng, trí tưởng tượng có hai mặt, bởi tưởng tượng đôi khi gắn với sự thiếu thực tế, sự mơ mông. Trí tưởng tượng là niềm vui, nhưng cũng là nguồn gốc đau buồn. Nó có thể là trác tuyệt, nhưng đôi khi dẫn tới tha hóa. Một mặt, nó giải phóng con người khỏi tư duy lý tính, một moặt khiến con người thiếu thực tế, đôi khi cắt kết nối con người với những người xung quanh.

Trí tưởng tượng đôi khi bị nhầm với phát minh sáng tạo, tri nhận. Trí tưởng tượng cho phép ta tái hiện trong tâm thức những nhận thức, trải nghiệm trước đây.

Nhiều khi trí tưởng tượng là điều kiện cần và đủ để sáng tạo nghệ thuật. Nếu sáng tạo nghệ thuật là sản phẩm của trí tưởng tượng, thì với người nghệ sĩ cần có khả năng xây dựng và thay đổi các hình ảnh của mình theo hướng khác nhau. Nhưng trí tưởng tượng không chắc chắn đã đóng vai trò nổi trội trong nghệ thuật. Thực tế cho thấy, tưởng tượng từng bị thất thế so với lý tính trong một thời gian dài của lịch sử nghệ thuật, khi xã hội loài người chìm trong đêm trường Trung cổ.

Thạc sĩ nghệ thuật Diệu Hương cũng bàn về vai trò của tưởng tượng với người nghệ sĩ? Con người chỉ sáng tạo được khi thiếu vắng điều gì đấy, luôn tưởng tượng về vật thiếu vắng đó, và chỉ nghĩ về cái thiếu vắng đó. Tưởng tượng không xuất hiện từ con số 0, nó xuất phát từ những thực tế, nó tạo ra rất nhiều kết quả. Theo Diệu Hương, tưởng tượng thôi không đủ làm nên nghệ sĩ, nhưng không có tưởng tượng thì không làm nên nghệ sĩ.

Những phát minh, sáng chế có tính tương đối, gắn liền với quá khứ, có chút mới lạ với những gì trước đây. Còn tưởng tượng tiên liệu rất nhiều điều trong tương lai. Trí tưởng tượng thông qua khoa học làm thay đổi thế giới, tạo ra thế giới theo mong muốn con người.

Tương lai của tưởng tượng

Nếu như ba diễn giả Alain Patrick Olivier, Đặng Hoàng Giang, Phạm Diệu Hương nói về lịch sử, vai trò của trí tưởng tượng trong xã hội và nghệ thuật, thì Giáo sư Arnaud Mercier – người quan tâm tới các vấn đề truyền thông, mạng xã hội – bàn về tưởng tượng trong thời đại kỹ thuật số.

Với công nghệ số, mọi thứ đều thay đổi chóng mặt. Trước đây, nếu như các sinh viên tốt nghiệp đại học với một tấm bằng báo chí, và học tác nghiệp trong nhiều năm với tấm bằng ấy. Nhưng thế giới ngày nay không dừng lại ở đó. Vậy chúng ta phải thích nghi thường xuyên, hằng ngày, hằng giờ.

Để thích nghi, con người phải phát triển khả năng sáng tạo, không ngừng sáng tạo. Chúng ta phải tự học sự sáng tạo hàng ngày, hàng giờ. Phải tò mò, quan sát xung quanh, chắt lọc, tái tạo lại những thứ hay, sáng tạo trên cơ sở những điều bạn có.

Khi tưởng tượng lên ngôi là lúc quyền lực trao vào chính bản thân mỗi người, quyền lực sáng tạo của riêng mỗi người. Sự sáng tạo với người làm truyền thông cần phải có thực tại, kết hợp với trí tưởng tượng, để mở ra những chân trời mới.